Gợi ý giải đề thi Địa lý tốt nghiệp THPT 2013

Thảo luận trong 'Địa' bắt đầu bởi tinhoc24h, 4/6/13.

Lượt xem: 2,047

  1. tinhoc24h

    tinhoc24h

    Tham gia ngày:
    4/8/11
    Bài viết:
    866
    Điểm thành tích:
    38
    Gợi ý giải đề thi Địa lý tốt nghiệp THPT 2013
    Theo đánh giá của thí sinh, đề Địa tương đối bám sát chương trình. Phần lớn đề thi đều nằm trong chương trình kiến thức đại trà. Dưới đây là gợi ý giải do Trung tâm Hocmai.vnOnline cung cấp.

    Phần chung

    Câu I

    1. Đặc điểm địa hình vùng núi Đông Bắc

    v Giới hạn : Vùng núi phía tả ngạn sông Hồng

    v Là vùng núi già, chủ yếu là đồi núi thấp.

    v Gồm 4 cánh cung lớn là cánh cung Sông Gâm, Ngân Sơn, Bắc Sơn và Đông Triều mở rộng về phía bắc và đông chụm lại ở Tam Đảo.

    v Hướng nghiêng : cao ở tây bắc thấp dần xuống đông nam.

    2. Thế mạnh của nguồn lao động nước ta

    Số lượng:

    · Nguồn lao động rất dồi dào: 42,53 triệu người, chiếm 51,2% dân số (năm 2005)

    · Trung bình mỗi năm số lao động lại tăng thêm khoảng trên 1 triệu người.

    Chất lượng lao động ngày càng nâng lên. Người lao động nước ta cần cù, sáng tạo, có kinh nghiệm sản xuất phong phú gắn với truyền thống dân tộc được tích lũy qua nhiều thế hệ.

    * Việc làm đang là vấn đề kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay:

    - Số lượng lao động tăng nhanh qua các năm, tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm gia tăng.

    - Năm 2005: Cả nước có 2,1% lao động thất nghiệp và 8,1% lao động thiếu việc làm ở thành thị tỉ lệ thất nghiệp cao (5,3%).

    - Mỗi năm nước ta giải quyết được gần 1 triệu việc làm mới.

    Câu II.

    1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ ở nước ta:

    Hình thành các vùng động lực phát triển kinh tế, vùng chuyên canh, khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất quy mô lớn.

    Việc phát huy thế mạnh của từng vùng nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế và tăng cường hội nhập đã dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân hóa sản xuất giữa các vùng trong nước.

    Trong phạm vi cả nước đã hình thành ba vùng kinh tế trọng điểm: vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, vùng kinh tế trọng điểm miền Nam.

    2. Những chuyển biến tích cực của hoạt động xuất khẩu nước ta trong thời kì Đổi mới:

    v Thị trường buôn bán ngày càng mở rộng, thành công trong việc gia nhập WTO.

    - Về cơ cấu: Trước Đổi mới: nhập siêu. Năm 1992 duy nhất trong cán cân xuất nhập khẩu của nước ta tiến đến cân đối.

    v Tổng giá trị xuất khẩu tăng.

    v Mặt hàng xuất khẩu ngày càng phong phú, chủ yếu đó là: khoáng sản, hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp, nông sản, thuỷ sản.

    Câu III

    1. Ý nghĩa của việc tăng cường hợp tác giữa Việt Nam với các nước láng giềng trong giải quyết các vấn đề biển đảo:

    - Tăng cường đoàn kết an ninh quốc phòng trong khu vực.

    - Ổn định, hòa bình trong khu vực và trên Thế giới.

    - Khẳng định chủ quyền trên biển Đông theo luật biển năm 1982.

    - Phát triển kinh tế trên biển, tạo việc làm tăng thu nhập của người dân của mỗi quốc gia.

    2.

    a. Vẽ biểu đồ kết hợp đường và cột. Trong đó: cột thể hiện cho diện tích, đường thể hiện cho năng suất.

    Chú ý: Biểu đồ có đầy đủ: tên, chú giải, khoảng cách giữa các năm cho phù hợp.

    b. Nhận xét

    ĐBSCL là vùng có diện tích gieo trồng lúa và năng suất lúa lớn nhất cả nước và đang tăng dần qua các năm. (dẫn chứng)

    Diện tích gieo trồng tăng (dẫn chứng)

    Năng suất tăng qua các năm (dẫn chứng)

    Vì đây là đồng bằng lớn nhất cả nước, diện tích trồng lúa ngày càng được mở rộng. Bên cạnh đó việc áp dụng các thành tựu khoa học, công nghệ ngày càng được đẩy mạnh.

    Câu IV

    IV.a.

    Các trung tâm công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm lớn của nước ta là: Hải Phòng, Nha Trang, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Cần Thơ, Cà Mau

    Nhận xét về sự phân bố:

    Các trung tâm công nghiệp nằm ở vị trí phù hợp (tập trung chủ yều ở đồng bằng), gần nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ rộng lớn (dẫn chứng); Là nơi có nguồn lao động dồi dào và có chính sách đầu tư phát triển của Nhà nước.

    IV.b.
    Các trung tâm công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng rất lớn và lớn ở nước ta: Hà Nội, Hải Phòng, Tp Hồ Chí Minh, Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Vũng Tàu.
    Nhận xét về sự phân bố: Các trung tâm công nghiệp nằm ở vị trí phù hợp (tập trung chủ yều ở đồng bằng), gần nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ rộng lớn (dẫn chứng); Là nơi có nguồn lao động dồi dào và có chính sách đầu tư phát triển của Nhà nước.
    Nguồn: Hocmai.vn
     
  2. tantuanattom

    tantuanattom

    Tham gia ngày:
    3/12/14
    Bài viết:
    1
    Điểm thành tích:
    1
    Giới tính:
    Nam
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để nhìn thấy link(chữ Hán: chất Thán, than đá) là nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn có ký hiệu là C và số nguyên tử bằng 6. Là một nhân tố phi kim có hóa trị 4 phổ thông, cacbon có nhiều dạng thù hình khác nhau, phổ biến nhất là 3 dạng thù hình gồmcacbon vô định hình, graphit và kim cương.

    Các sợi Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để nhìn thấy link là tương tự như cacbon thủy tinh. Dưới các xử lý đặc biệt (kéo dãn các sợi hữu cơ và cacbon hóa) nó có khả năng sắp xếp các mặt tinh thể cacbon theo hướng của sợi. Vuông góc với trục của sợi không có các mặt tinh thể cacbon. Kết quả là các sợi có độ bền đặc biệt cao hơn cả thép.

    Cacbon tồn tại trong mọi sự sống hữu cơ và nó là nền móng của hóa hữu cơ. Phi kim này còn có tính chất hóa học đáng chú ý là có khả năng tự liên kết với nó và kết liên với một loạt các yếu tố khác, tạo ra gần 10 triệu hợp chất đã biết. Khi kết liên với ôxy nó tạo ra cacbon điôxít là rất cần yếu đối với sự sinh trưởng của thực vật. Khi liên kết với hiđrô, nó tạo ra một loạt các hợp chất gọi là các hiđrôcacbon là rất quan trọng đối với công nghiệp trong dạng của các nhiên liệu hóa thạch. Khi liên kết với cả ôxy và hiđrô nó có thể tạo ra rất nhiều nhóm các hợp chất bao gồm các axít béo, là cấp thiết cho sự sống, và este, tạo ra hương vị của nhiều loại hoa quả. Đồng vị cacbon-14 được sử dụng phổ biến trong xác định niên đại bằng phóng xạ.



    Các thù hình của cacbon là khác nhau về cấu trúc mạng nguyên tử mà các nguyên tử tinh khiết có thể tạo ra. Ba dạng được biết nhiều nhất là cacbon vô định hình, graphit và xoàn. Một số thù hình kỳ dị khác cũng đã được tạo ra hay phát hiện ra, bao gồm các fullerene, cacbon ống nano và lonsdaleit. Muội đèn bao gồm các bề mặt dạng graphit nhỏ. Các bề mặt này phân bổ tình cờ, thành ra cấu trúc tổng thể là đẳng hướng. Cacbon thủy tinh là đẳng hướng và có tỷ lệ độ xốp cao. Không giống như graphit thường ngày, các lớp graphit không xếp lên nhau giống như các trang sách, mà chúng có sự xếp đặt tình cờ.

    Ở dạng vô định hình, cacbon cốt có cấu trúc tinh thể của graphit nhưng không kết liên lại trong dạng tinh thể lớn. Trái lại, chúng đẵn nằm ở dạng bột và là thành phần chính của than, muội, bồ hóng, lọ nồi và than hoạt tính.

    Ở áp suất thường nhật cacbon có dạng của graphit, trong đó mỗi nguyên tử liên kết với 3 nguyên tử khác trong mặt phẳng tạo ra các vòng lục giác, giống như các vòng trong các hiđrôcacbon thơm. Có hai dạng của graphit đã biết, là alpha (lục giác) và beta (rhombohedral), cả hai có các thuộc tính vật lý giống nhau, ngoại trừ về cấu trúc tinh thể. Các loại graphit có nguồn gốc thiên nhiên có thể chứa tới 30% dạng beta, trong khi graphit tổng hợp chỉ có dạng alpha. Dạng alpha có thể chuyển thành dạng beta ưng chuẩn xử lý cơ học và dạng beta chuyển ngược thành dạng alpha khi bị nung nóng trên 1000 °C.

    Vì sự phi tập kết hóa của các đám mây pi, graphit có tính dẫn điện. vật liệu cho nên là mềm và các lớp, liền tù tù bị tách ra bởi các nguyên tử khác, được giữ cùng nhau chỉ bằng các lực van der Waals, nên chi chúng dễ dàng trượt trên nhau.

    Ở áp suất cực kỳ cao các nguyên tử cacbon tạo thành thù hình gọi là xoàn, trong đó mỗi nguyên tử được liên kết với 4 nguyên tử khác. xoàn có cấu trúc lập phương như silic và gecmani và vì độ bền của các kết liên cacbon-cacbon, cùng với chất đẳng điện nitrua bo (BN) là những chất cứng nhất trong việc chống lại sự mài mòn. Sự chuyển hóa thành graphit ở nhiệt độ phòng là rất chậm và khong thể nhận thấy. Dưới các điều kiện khác, cacbon kết tinh như là Lonsdaleit, một dạng giống như xoàn nhưng có cấu trúc lục giác.

    Các fulleren có cấu trúc giống như graphit, nhưng thay vì có cấu trúc lục giác thuần túy, chúng có thể chứa 5 (hay 7) nguyên tử cacbon, nó uốn cong các lớp thành các hình dạng cầu, elip hay hình trụ. Các thuộc tính của các fulleren vẫn chưa được phân tách đầy đủ. tất tật các tên gọi của các fulleren lấy theo tên gọi của Buckminster Fuller, nhà phát triển của kiến trúc mái vòm, nó bắt chước cấu trúc của các "buckyball".

    Sự phổ thông[sửa sửa mã nguồn]

    Cacbon là nguyên tố phổ thông thứ 4 trong vũ trụ về khối lượng sau hydro, heli, và ôxy. Cacbon có rất nhiều trong thái dương, các ngôi sao, sao chổi và bầu khí quyển của đa số các hành tinh. Một số thiên thạch chứa các kim cương vi tinh thể, loại được hình thành khi hệ ác vàng vẫn còn là một đĩa tiền hành tinh. Các kim cương vi tinh thể này có thể đã được tạo ra bằng sức ép rất mạnh và nhiệt độ cao tại những nơi mà thiên thạch đó va.[sup][12][/sup]

    Có khoảng 10 triệu hợp chất khác nhau của cacbon mà khoa học đã biết và hàng nghìn trong số đó là tối quan yếu cho các quá trình của sự sống và cho các phản ứng trên cơ sở hữu cơ rất quan trọng về kinh tế. Trong tổ hợp với các yếu tố khác, cacbon được tìm thấy trong bầu khí quyển Trái Đất và hòa tan trong mọi thực thể có chứa nước. Với một lượng nhỏ hơn của canxi, magiê và sắt, nó tạo ra thành phần cốt yếu của một lượng rất lớn đá cacbonat (đá vôi, đôlômit, đá đá hoa v.v.). Khi tổ hợp với hiđrô, cacbon tạo thành than, dầu mỏ và khí tự nhiên, còn được gọi là các hiđrôcacbon.

    Graphit được tìm thấy với một số lượng lớn ở các bang New York và Texas (Mỹ); Nga; Mexico; Greenland và Ấn Độ.

    xoàn thiên nhiên có trong khoáng vật kimberlit tìm thấy trong các "cổ" hay "ống" núi lửa cổ đại. phần nhiều các mỏ xoàn nằm ở châu Phi, cốt là Nam Phi, Namibia,Botswana, Cộng hòa Congo và Sierra Leone. Cũng có các mỏ ở Arkansas, Canada, vùng Bắc cực nước Nga, Brasil và ở miền bắc và tây nước Úc.

    Chu trình cacbon[sửa sửa mã nguồn]

    Bài chính: Chu trình cacbon

    Trong những điều kiện của địa cầu, sự chuyển hóa từ một đồng vị sang một đồng vị khác là rất hiếm. thành ra, đối với các mục thực thụ tiễn, khối lượng của cacbon trên Trái Đất có thể coi là một hằng số. bởi vậy các quá trình sử dụng cacbon phải hấp thụ nó từ một nơi nào đó và giải phóng nó ở một nơi nào khác. Chu trình mà cacbon luân chuyển trong môi trường được gọi là chu trình cacbon. Ví dụ, thực vật lấy cacbon điôxít từ môi trường và sử dụng nó để tạo ra khối lượng sinh vật học. Một số trong khối lượng sinh học này được động vật ăn, ở đó một phần chúng chung cục lại được thải ra dưới dạng cacbon điôxít. Chu trình cacbon trong thực tại phức tạp hơn nhiều so với tỉ dụ nhỏ này; thí dụ, một phần cacbon điôxít bị hòa tan trong nước biển; các động thực vật chết có thể trở thành đá trầm tích v.v.

    Đồng vị[sửa sửa mã nguồn]

    Cacbon có 2 đồng vị ổn định, có nguồn gốc tự nhiên: cacbon-12, hay [sup]12[/sup]C, (98,89%) và cacbon-13, hay [sup]13[/sup]C, (1,11%),[sup][13][/sup] Năm 1961, Hiệp hội hóa học lý thuyết và áp dụng(IUPAC) đã ưng đồng vị cacbon-12 làm cơ sở để đo khối lượng nguyên tử.[sup][14][/sup]

    Một đồng vị không ổn định, cũng có nguồn gốc tự nhiên là đồng vị phóng xạ; cacbon-14 hay [sup]14[/sup]C. Đồng vị [sup]14[/sup]C có mặt nhiều trong không khí và lắng đọng trong các đối tượng sinh vật trên bề mặt đất, đặc biệt trong than bùn và các nguyên liệu hữu cơ khác.[sup][15][/sup] Đồng vị này phân rã bằng cách phát xạ hạt β[sup]−[/sup] có năng lượng 0,158 MeV, chúng được tạo ra trong khí quyển (thấp hơn tầng bình lưu và cao hơn tầng đối lưu) do nitơ phản ứng với các tia vũ trụ. Do chu kỳ bán rã có 5730 năm, [sup]14[/sup]C hầu như không có mặt trong các đá cổ,[sup][16][/sup] Sự phong phú của [sup]14[/sup]C trong khí quyển và trong các sinh vật sống luôn là một hằng số, nhưng chúng sẽ giảm sau khi sinh vật đó chết đi. Nguyên tắc này được sử dụng trong phương pháp định tuổi cacbon phóng xạ được phát minh năm 1949, đã được con người áp dụng rộng rãi để xác định tuổi của các vật liệu chứa cacbon với giới hạn lên đến khoảng 40.000 năm.[sup][17][/sup][sup][18][/sup] cốt là trong khảo cổ học.

    Ngoài ra còn biết 15 đồng vị khác nữa và đồng vị có tuổi ngắn nhất là C[sup]8[/sup], nó phân rã theo bức xạ proton và phân rã alpha. Nó có chu kỳ bán rã là 1,98739x10[sup]−21[/sup] s.[sup][19][/sup] Đồng vị kích thích [sup]19[/sup]C thể hiện tính chất của một hạt nhân halo, nghĩa là bán kính của nó có thể lớn hơn đánh kể so với bán kính dự đoán nếu hạt nhân nguyên tử là một khối hình cầu có tỷ trọng không đổi.[sup][20][/sup]

    Hình thành trong các ngôi sao[sửa sửa mã nguồn]

    Cacbon đã không được tạo ra trong Vụ Nổ Lớn (The Big Bang) vì thiếu các yếu tố cấp thiết cho sự va chạm ba của các hạt alpha (hạt nhân heli) để sinh sản nó. Vũ trụ trước tiên được mở rộng ra và bị làm nguội quá nhanh để điều này có thể xảy ra. Tuy nhiên, nó được sinh sản trong tâm của các ngôi sao trong nhánh ngang, ở đó các ngôi sao chuyển hóa nhân heli thành cacbon bằng các cách thức của quy trình ba-alpha. Nó cũng đã được tạo ra trong các dạng nguyên tử phức tạp.

    Chu trình cacbon[sửa sửa mã nguồn]
    Bài chi tiết: Chu trình cacbon
    [​IMG] Sơ đồ chu trình cacbon.

    Trong các điều kiện trên Trái Đất, sự chuyển biến từ một yếu tố này thành một nhân tố khác là rất hiếm. Dù vậy, hàm lượng cacbon trên Trái Đất là không đổi. Do đó, các quá trình sử dụng cacbon phải tiêu thụ nó ở một nơi và thải ra ở một nơi khác. Những cách mà cacbon chuyển di trong môi trường tạo thành một chu trình gọi là chu trình cacbon. Một phần của sinh khối này được độn vật tiêu thụ, trong khi một lượng cacbon được động vật thảy ra ở dạng cacbon đi-ô-xít. Chu trình cacbon được xem là phức tạp hơn vòng tuần hoàn ngắn này; thí dụ như cacbon điôxít bị hòa tan trong các đại dương; thực vật chất hoặc xác động vật có thể hình thành nên dầu mỏ hoặc than, nếu đốt chúng sẽ thải ra cacbon.[sup][21][/sup][sup][22][/sup]

    ứng dụng[sửa sửa mã nguồn]

    Cacbon là các thành phần cần yếu cho mọi sự sống đã biết, và không có nó thì sự sống mà chúng ta đã biết chẳng thể tồn tại (Xem Sự sống phi cacbon). Việc sử dụng kinh tế chủ yếu của cacbon là trong dạng các hiđrôcacbon, đẵn là các nhiên liệu hóa thạch như than, khí mêtan và dầu mỏ (xăng dầu). dầu lửa được sử dụng trong công nghiệp hóa dầu để sinh sản ra các sản phẩm như xăng và dầu hỏa, duyệt các quy trình chưng cất trong lọc dầu. dầu lửa cũng là nguồn vật liệu cho nhiều chất hữu cơ tổng hợp khác, rất nhiều trong số chúng gọi chung là các chất dẻo (plastic).

    Các ứng dụng khác[sửa sửa mã nguồn]
    • [*]Đồng vị Cacbon-14 được phát hiện vào ngày 27 tháng 2 năm 1940 và được sử dụng trong xác định niên đại bằng phóng xạ.[*]Một số các thiết bị phát hiện sử dụng một lượng nhỏ đồng vị phóng xạ của cacbon làm nguồn bức xạ ion hóa (phần đông các thiết bị như thế sử dụng đồng vị của Americi)[*]Graphit phối hợp với đất sét để tạo ra 'chì' dùng trong các loại bút chì.[*]xoàn được dùng vào mục đích trang sức hay trong các mũi khoan và các vận dụng khác đòi hỏi độ cứng cao của nó.[*]Cacbon được thêm vào quặng sắt để sinh sản gang và thép.[*]Cacbon dưới dạng than chì được dùng như là các thanh điều tiết nơtron trong các lò phản ứng hạt nhân.[*]Graphit cacbon trong dạng bột, bánh được dùng như là than để thổi nấu, bột màu trong mỹ thuật và các dùng khác.[*]Than hoạt tính được sử dụng trong y tế trong dạng bột hay viên thuốc để tiếp nhận các chất độc từ hệ thống tiêu hóa hay trong các thiết bị thở.
    Các tính chất hóa học và cấu trúc của các fulleren, trong dạng các cacbon ống nano, có áp dụng đầy hứa trong các lĩnh vực mới nảy của công nghệ nano.

    Lịch sử[sửa sửa mã nguồn]

    Ít ai nghĩ sợi carbon (Carbon fiber – CF) được sáng chế vào năm 1879 bởi Thomas Edison và được coi là loại sợi tổng hợp cổ nhất của loài người, lại có giá trị lớn lao đến thế đối với sự phát triển khoa học kỹ thuật đương đại. Ban đầu, nhà phát minh này đã dùng sợi carbon làm dây tóc của bóng đèn. dù rằng lúc đó sợi sợi carbon không giống như sợi carbon ngày nay, nhưng chúng lại có sức chịu đựng đáng kể với nhiệt độ, điều này khiến cho sợi carbon trở thành ý tưởng không tồi cho các loại sợi dẫn điện.

    Edison chế tác sợi carbon dựa trên chất xenluloza gồm có cotton hoặc tre, hoàn toàn không giống như sợi carbon ngày nay làm từ dầu mỏ. Sự carbon hóa được tiến hành từ việc đốt cháy các sợi tre ở nhiệt độ cao trong môi trường tiêu chuẩn dưới sự kiểm soát chặt chịa. Thomas Edison đã mất 40 giờ đốt cháy liên tiếp vật chất trên nhằm loại bỏ oxy, nitơ, hydro và chỉ giữ lại carbon để tạo ra những sợi carbon trước hết trên thế giới. Phương pháp chế tạo trên được gọi là “nhiệt phân” và vẫn được dùng trong thời đại ngày nay. Kết quả là những sợi tre được “carbon hóa” có khả năng chịu lửa và nhiệt độ cao – điều kiện cần thiết cho sự cháy sáng của dây tóc bóng đèn.

    Về sau, đến tận những năm 1950 khả năng kéo giãn của sợi carbon mới được khám phá. Người trước hết được cho là tạo ra sợi carbon hiện tại có tên là Rayon. ngày nay, sợi carbon hiện đại được sinh sản bởi một nguyên liệu có tên là polyacrylonitrile (PAN), đây cũng là vật liệu được dùng để sinh sản hầu hết khối lượng sợi carbon ngày nay.

    sinh sản[sửa sửa mã nguồn]

    Than chì[sửa sửa mã nguồn]
    Bài chi tiết: Than chì
    Các mỏ than chì thiên nhiên có giá trị thương nghiệp xuất hiện nhiều nơi trên thế giới, nhưng các nguồn quan yếu nhất có giá trị kinh tế tập kết ở Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil và Bắc Hàn. Các mỏ than chì có cỗi nguồn biến chất, được tìm thấy cùng với thạch anh, mica và feldspar trong các đá phiến, gneiss và cát kết và đá vôi bị biến chất ở dạng thấu kính hoặc mạch, thỉnh thoảng có bề dày một mét hoặc lớn hơn. Các mỏ than chì ở Borrowdale, Cumberland, Anh trước hết có kích thước và độ thuần khiết (cho đến thế kỷ 19) đủ để làm các cây bút chì bằng cách đơn giản là cưa chúng thành các que và lấp vỏ gỗ vào. hiện tại, các mỏ than chì nhỏ hơn được khai thác bằng cách nghiền đá gốc và dùng phương pháp tuyển nổi để lấy than chì nhẹ hơn nổi trên mặt.[sup][23][/sup]

    Có 3 loại than chì thiên nhiên gồm: vô định hình, than chì lớp, và mạch. Than chì vô định hình có chất lượng thấp và phổ quát nhất. Khác với khoa học, trong công nghiệp "vô định hình" ở đây đê cập đến kích thước tinh thể rất nhỏ thay vì không có một cấu trúc tinh thể rõ ràng. Dạng vô định hình được sử dụng cho các sản phẩm than chì có giá trị thấp và là than chì có giá thấp nhất. Một lượng lớn các mỏ than chì vô định hình được phát hiện ở Trung Quốc, châu Âu, Mexico và Hoa Kỳ. Than chì Flake ít phổ biến hơn và có chất lượng cao hơn dạng vô định hình; nó có mặt ở dạng các tấm tách biệt được kết tinh trong đá biến chất. Than chì Flake có thể đắt gấp 4 lần dạng vô định hình. Flake chất lượng tốt có thể được xử lý thành than chì có thể giãn nở được dùng cho nhiều mục đích khác nhau như chất chống cháy. Các mỏ quan trọng nhất của dạng này được tìm thấy ở Áo, Brazil, Canada, Trung Quốc, Đức và Madagascar. Than chì dạng mạch là hiếm nhất, có giá trị nhất, và là loại than chì tự nhiên có chất lượng cao nhất. Nó xuất hiện ở các dạng mạch dọch theo các nơi tiếp xúc với đá xâm nhập, và loại thương mại được khai hoang chỉ có tại Sri Lanka.[sup][23][/sup]

    Theo USGS, sản lượng than chì thiên nhiên trên thế giới là 1,1 triệu tấn năm 2010, trong đó Trung Quốc là 800.00 tấn, Ấn Độ 130.000 tấn, Brazil 76.000 tấn, Bắc Hàn 30.000 tấn và Canada 25.000 tấn. Than chì không có cội nguồn tự nhiên đã được khẩn hoang ở Hoa Kỳ, nhưng 118.000 tấn than chì tổng hợp có giá trị khoảng 998 triệu USD đã được sinh sản năm 2009.[sup][23][/sup]

    xoàn[sửa sửa mã nguồn]
    Bài chi tiết: kim cương
    Các hợp chất[sửa sửa mã nguồn]
    Bài chi tiết: Các hợp chất cacbon
    Hợp chất vô sinh[sửa sửa mã nguồn]
    Bài chi tiết: Hợp chất vô sinh
    Các hợp chất chứa cacbon phổ biến liên hệ đến các khoáng vật hoặc không chứa hydro hoặc flo được xem là một nhóm các hợp chất vô cơ biệt lập; tuy nhiên định nghĩa này là không cứng nhắc. Ôxít lừng danh nhất của cacbon là cacbon điôxít, CO[sub]2[/sub]. Nó là thành phần nhỏ của Khí quyển Trái Đất[sup][24][/sup], được sử dụng và sản sinh ra bởi các thực thể sống, và nó có mặt ở mọi nơi. Trong nước nó tạo thành một lượng nhỏ axít cacbonic, H[sub]2[/sub]CO[sub]3[/sub], nhưng giống như đa số các hợp chất với nhiều kết liên của các đơn nguyên tử ôxy trên một nguyên tử cacbon duy nhất là không bền.[sup][25][/sup] ưng chuẩn trung gian này, các ion cacbonat ổn định hơn được tạo ra. Một số khoáng chất quan yếu là các cacbonat, nức danh nhất là canxít. Cacbon đisulfua, CS[sub]2[/sub], là rưa rứa.

    Các ôxít khác là cacbon mônôxít, CO và cacbon subôxít không phổ thông lắm, C[sub]3[/sub]O[sub]2[/sub]. Cacbon mônôxít được tạo ra do sự cháy không hết, và nó là chất khí không màu, không mùi. Các phân tử đều có kết liên ba và là phân cực thật sự, kết quả là chúng có khuynh hướng liên kết vĩnh cửu với các phân tử hemoglobin, nên chi khí này là một khí rất độc.[sup][26][/sup][sup][27][/sup] Xyanua, CN[sup]-[/sup], có cấu trúc rưa rứa và có các tính chất rất giống với các ion halua; nitrua xyanogen, (CN)[sub]2[/sub], là hao hao. thí dụ, nó có thể tạo thành phân tử cyanogen nitrit (CN)[sub]2[/sub]), rưa rứa như halua 2 nguyên tử. Cá ôxít không phổ biến khác như cacbon suboxide (C[sub]3[/sub]O[sub]2[/sub]),[sup][28][/sup] dicacbon monoxit không bền (C[sub]2[/sub]O),[sup][29][/sup][sup][30][/sup] cacbon trioxit (CO[sub]3[/sub]),[sup][31][/sup][sup][32][/sup] cyclopentanepenton(C[sub]5[/sub]O[sub]5[/sub])[sup][33][/sup] cyclohexanehexon (C[sub]6[/sub]O[sub]6[/sub]),[sup][33][/sup] và mellitic anhydrit (C[sub]12[/sub]O[sub]9[/sub]).

    Khi phản ứng với các kim loại như tungsten, cacbon tạo thành các carbua (C[sup]4–[/sup]), hoặc acetylua (C[sub]2[/sub]2-) từ đó tạo ra các hợp kim có nhiệt độ nóng chảy cao. các anion này cũng phối hợp với metan và acetylen, cả hai đều là các axít rất yếu. Với độ âm điện 2,5,[sup][34][/sup] cacbon tạo nên các kết liên cộng hóa trị. một đôi cacbua có các ô mạng cộng hóa trị, giống như carborundum (SiC), có cấu trúc rưa rứa xoàn.

    Hợp chất với kim loại[sửa sửa mã nguồn]

    Với các kim khí mạnh cacbon tạo ra hoặc là các cacbua, C[sup]-[/sup], hoặc các axetylua, C[sub]2[/sub][sup]2-[/sup]; các ion này có liên quan với mêtan và axetylen, cả hai đều là các axít rất yếu. Trên vớ, với độ điện âm 2,55, cacbon có thiên hướng tạo ra các liên kết cộng hóa trị. Một số cacbua là các lưới cộng hóa trị, giống như cacborundum, SiC, là chất giống với xoàn.

    Mạch cacbon[sửa sửa mã nguồn]

    Các hiđrôcacbon là một mạch của các nguyên tử cacbon, được bão hòa bởi các nguyên tử hiđrô. Các loại xăng dầu có mạch cacbon ngắn. Các chất béo có mạch cacbon dài hơn, và các loại sáp có mạch cacbon cực dài.

    Cảnh báo[sửa sửa mã nguồn]

    Cacbon tương đối an toàn. Tuy nhiên, việc hít thở vào một lượng khói lớn chứa thuần túy bồ hóng có thể gây hiểm nguy. Cacbon có thể bắt lửa ở nhiệt độ cao và cháy rất mãnh liệt (như trong Vụ cháy Windscale).

    Có nhiều hợp chất của cacbon là những chất độc chết người như các (xyanua, CN[sup]-[/sup]), hay cacbon mônôxít, CO và một số các chất có nguồn cội tự nhiên hay tổng hợp khác.

    Điều chế[sửa sửa mã nguồn]

    Cách để điều chế cacbon là dùng kim loại mạnh là nhôm hoặc ma-giê để khử một hợp chất oxit cacbon bất kì thành cacbon. thí dụ:
    2Al + 3CO → Al[sub]2[/sub]O[sub]3[/sub] + 3C2Mg + CO[sub]2[/sub] → 2MgO + C
    Sau đó cho hổ lốn vào một dung dịch axit (không có tính ôxi hóa mạnh) như HCl, H[sub]2[/sub]SO[sub]4[/sub] loãng để hòa tan Al[sub]2[/sub]O[sub]3[/sub] hoặc MgO, còn lại cacbon không tan, ta lọc cacbon ra khỏi dung dịch. ngoại giả có thể điều chế cacbon theo các phương trình sau nhưng hiệu suất không cao do khí hiđro rất dễ bay lên:
    CO + H[sub]2[/sub] ↔ C + H[sub]2[/sub]O (Nhiệt độ khoảng 1050 độ C)CO + 3H[sub]2[/sub] → CH[sub]4[/sub]↑ + H[sub]2[/sub]O (Chất xúc tác: Niken, 250 độ C)CO[sub]2[/sub] + 4H[sub]2[/sub] → CH[sub]4[/sub]↑ + 2H[sub]2[/sub]O (Xúc tác, nhiệt độ cao, áp suất cao)CH[sub]4[/sub] → C + 2H[sub]2[/sub]↑ (Nhiệt độ trên 1000 độ C)[sup][cần dẫn nguồn][/sup]
    Tham khảo[sửa sửa mã nguồn]
     

Chia sẻ trang này